Chim Chòe Lửa có bộ lông dài đẹp, khi hót thường đánh đuôi, sàng cầu, chim hót nhiều giọng. Nuôi chòe lửa nhìn chung cũng cần đòi hỏi một số kinh nghiệm chăm sóc chòe lửa nhất định. Chim Chòe lửa ăn nhiều mồi tươi, cám. Mức độ chăm sóc trung bình. Giọng hót thuộc top hay, nhiều giọng.

Cách luyện giọng cho chim chích chòe lửa hót

Thứ 3 Tháng 1 28, 2014 11:38 pm

Chích chòe lửa ở các vùng miền khác nhau sẽ có giọng hót khác nhau. Mặc dù chúng có thể học giọng hót mới khi nuôi nhốt lồng. Một con chim bổi sẽ trổ giọng rừng mạnh mẽ và giọng hót đó có nguồn gốc từ địa phương mà nó sống.
Nếu bắt chim con từ trong ổ, nó sẽ thiếu giọng hót của lửa vùng đó khi chúng trưởng thành sau này. Nếu những chim con này được nuôi mà không có chim thầy trong những tuần đầu, chúng cũng sẽ bị giới hạn trong việc “hót hò” nhiều giọng khi trưởng thành. Trong khi đó, chim chuyền được bắt từ tự nhiên ở một giai đoạn già hơn, có khả năng hót giọng của địa phương đó sau này khi trưởng thành và những chú chim tơ đánh bắt hoang dã cũng tiếp xúc với chim thầy trong vài tuần đầu tiên, để khi trưởng thành chúng hót nhiều giọng hơn. Điều này xác nhận một lý thuyết cho rằng có một khoảng thời gian học tập rất quan trọng trong những tuần đầu của cuộc sống và chích chòe lửa con sẽ lưu giữ các giọng hót mà chúng nghe được vào bộ não. Giọng hót của những con chim cha, chim gần đó và một số âm thanh từ môi trường tự nhiên ở đó sẽ được coi là “giọng địa phương” của chúng.
Các nghệ nhân ở các vùng miền khác nhau có cách đánh giá khác nhau về giọng hót của chích chòe lửa từng vùng miền. Ở một số nơi, đánh giá cao chất lượng giai điệu của giọng hót và ở những nơi khác, chú trọng nhiều giọng và không nhất thiết phải là chất lượng giai điệu. Một số nghệ nhân khi nuôi chim con, họ giảm thiểu những âm thanh không mong muốn trong môi trường xung quanh và cho chúng tiếp xúc nhiều với “giọng địa phương” tốt. Trong các vùng miền khác, nhiều người hướng tới sự đa dạng, khả năng bắt chước âm thanh của động vật khác hoặc các âm thanh tự nhiên của rừng núi xung quanh. Trong mọi trường hợp, khả năng bắt chước để phát triển giọng hót thông qua việc học từ những chim khác của cùng một loài cũng như từ các loài khác là khả năng nổi trội ở chòe lửa và được nhiều người ưa thích.
Mặc dù chúng có khả năng sao chép các giọng của các loài chim khác, nhưng các giọng hót này có thể khác nhau về phẩm chất âm từ các nguồn. Chúng cũng có khả năng bắt chước âm thanh nhất định từ môi trường xung quanh, chẳng hạn như các âm thanh của còi xe, còi báo động nhưng có vẻ như những âm này chỉ xuất hiện khi nó đi chuyện và ít được ghi nhận khi nó hót lớn. Thanh quản là cơ quan phát ra giọng của chim. Nó bao gồm hai phần nằm gần khí quản và có màng đàn hồi cao. Các cơ của thanh quản kiểm soát sự căng lên của màng bởi khí từ phổi và điều chỉnh áp suất không khí, chim có khả năng kiểm soát độ ồn và cường độ của âm thanh phát ra từ thanh quản. Hai mặt của thanh quản có thể hoạt động độc lập với nhau và phát ra hai “tông” riêng biệt đồng thời. Một số chích chòe lửa có thể làm được điều này, chúng hót một giọng với đồng thời hai “tông”.
Trong quá trình thay lông, chim sẽ ít hót hơn vì vậy nên phủ áo lồng thường xuyên hơn và cho chúng tiếp xúc với chim hót khác (Không phải chích chòe lửa) với nhiều giọng hót được ưa thích. Chích chòe lửa sẽ ghi lại và ghi nhớ âm thanh đã nghe. Thời gian sau, khi gặp con lửa khác, nó sẽ hót giọng mà nó đã ghi nhớ trước đó, giọng của nó sẽ khác, sắc và to hơn. Vì vậy, điều quan trọng là lựa chọn những con chim thầy cho nó, và tránh xa những chú chim đồng loại căng lửa hoặc chim khác có giọng không hay lắm.
Thời kỳ thay lông, chim ít hót, chủ yếu là lắng nghe. Nếu muốn nghe nó hót giọng yêu thích sau đó, chúng ta tập nó với chim khác để nó học giọng. Khả năng này khác nhau ở mỗi con, vì vậy chúng ta phải chọn được con tốt nhất. Có thể cho nó nghe tiếng dế kêu (dế trống), tiếng mưa rơi-thác đổ .v.v. Khi quan sát ở trường đấu nhỏ (3-5 con) chúng ta có thể phát hiện chúng đe dọa con khác bằng cách thay đổi “tông” và có thể thấy những chú chim tỏ ra sợ sệt khi nghe con khác đổi “tông” lạ, đột ngột. Nếu nó sợ hãi nó sẽ im lặng. Mặt khác, mọi người tỏ ra không thích chòe lửa hót giọng đơn điệu.

Hình ảnh

Khuyến khích nuôi lồng lớn nhất có thể (#53-54 cm đường kính), nhất là đối với chim còn tơ. Khỏang không gian này là thích hợp cho sự phát triển về thể chất của chim. Lồng phải được đặt trong một góc phòng yên tỉnh, tránh được gió lùa và ánh nắng trực tiếp.
Việc huấn luyện chim hót phụ thuộc rất nhiều vào sở thích của mỗi cá nhân. Một số có thể muốn dạy con chim của mình hót giọng rừng giống như những con chim từ hoang dã , một số khác lại thích những giọng hay, lạ, ngắn … Cũng nên biết rằng, giọng hót của chim đa phần là do thừa hưởng. Một giọng hót đơn điệu có thể được cải thiện chút ít trong khả năng của nó để hót nhiều giọng sau khi được đào tạo nhưng chưa bao giờ có thể được phát triển thành một giọng hót xuất sắc.
Một con chim tiềm năng có thể phát triển giọng rừng của chúng trong giai đoạn đầu mà không cần phương pháp đặc biệt. Một con chim khỏe mạnh có thể hót du dương hàng giờ. Để tránh mất tập trung, đi dượt chim 2-3 giờ mỗi ngày, các lồng có thể được phủ ½ áo lồng. Giọng hót của chim sẽ phát triển tốt trước đợt thay lông đầu tiên.
Vào thời kỳ thay lông, để tập giọng cho chim tơ, có thể cho chúng nghe giọng chim khác lòai hoặc giọng chim hay. Băng đĩa của giọng chim hót xuất sắc cũng có thể được sử dụng để hổ trợ đào tạo.
Thông thường, một con chim non được nuôi dưỡng tốt sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với chim lạ khác sau đợt thay lông đầu tiên (6-10 tháng tuổi). Các tần số và volume của giọng hót sẽ tăng dần. Khi chim đạt đỉnh lửa, vòm họng sẽ biến từ đỏ nhạt đến đỏ sẫm hoặc màu đen. Sau đó sẽ là thời gian tốt nhất để đánh giá về khả năng “hót hò” hoặc tiềm năng và cách chơi hoặc là thời điểm thích hợp được chon để dự thi.
Giai đoạn tiếp theo là tập cho chim làm quen với môi trường lạ, đám đông và các loài chim khác. Thông thường là mang chim đến nơi dợt thường xuyên – Nơi mà các nghệ nhân khác cũng mang chim của họ đến để tập luyện. Một chòe lửa đã được đào tạo tốt sẽ bắt đầu hót ngay sau khi nghe các giọng của chòe lửa khác và trong một số trường hợp có thể cho nó học giọng của chim khác lòai.
(st)

Website chuyên cung cấp mua bán các loại chim cảnh.

Thông báo mới: Web mới nâng cấp. Bạn muốn mua bán chim cảnh? Hãy tham gia web, sản phẩm của bạn sẽ được quảng bá hiệu quả.
ĐT 0933145858 Đắk Lắk 58 thôn hòa nam, xã ea nuôl, huyện buôn đôn, tỉnh daklak
Giá 1.500.000vnđ Còn hàng 1
Chim không tật lỗi, hót xòe, nhiều giọng
Bình luận
ShopBanChimVN: bác ở xa quá, nếu ở gần em cũng qua mua, chúc chim nhanh bay 1 ngày trước
kunbmt: Thank bác 1 ngày trước
Đăng nhập để bình luận

ĐT 0909655954 TP HCM Q8
Giá 3.000.000vnđ Còn hàng 1
Cần bán nhồng đang tập nói ai thích xin lh
Đăng nhập để bình luận

ĐT 09666695497 Hà Nội 2A/ 13 / ngõ 383/ Tam Trinh
Giá KM 450.000vnđ 500.000vnđ Còn hàng 1
Chim sơn ca huế, 6 tháng lồng, chim tương đối lành, đã hót gió, chân cao, mào dựng, to con.
Đăng nhập để bình luận

Xem các sản phẩm khác click vào đây




Mạng xã hội chim cảnh. Chia sẻ kinh nghiệm, giao lưu chim cảnh.

Thông báo mới: Web mới nâng cấp. Bạn muốn tham gia mạng xã hội chim cảnh? Hãy tham gia web
8 loại vẹt ở Việt Nam

VẸT ĐẦU HỒNG
Blossom-headed Parakeet

Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu và hai bên đầu hồng tươi má và gáy hồng phớt bạc Các lông ở gốc hàm dưới, cằm, họng và một dải ở dưới má đen kéo dài thành vòng ở hai bên và sau cổ. phần còn lại ở mặt lưng lục nhạt, phớt vàng nhạt ở phần trên lưng. Đuôi xanh nhạt, với phần gốc lông lục nhạt và mút lông vàng trắng nhạt. Cánh lục, các lông cánh và lông bao cánh đều viền màu nhạt hơn, phiến lông trong của các lông cánh sơ cấp đen nhạt. Ở lông bao cánh nhỡ có một vệt đỏ. Mặt bụng vàng lục nhạt. Dưới cánh và nách lục.

Chim cái:
Bầu xám hồng viền vàng, không có vòng đen ở cổ. Mắt trắng hay vàng nhạt. Mỏ trên vàng cam, mỏ dưới đen. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh (đực): 135 - 146, (cái): 131 - 141; đuôi (đực): 149 - 158, (cái): 145 - 156; giò 12 - 13; mỏ 17 - 19mm.
Phân bố:
Vẹt đầu hồng phân bố ở Bengan, Nêpan, Axam, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có ở khắp các rừng những chỗ tương đối không rậm rạp từ Quảng Trị trở vào Nam.

VẸT ĐẦU XÁM
Slaty-headed Parakeet

Chim đực trưởng thành:
Toàn bộ đầu xám trừ các lông ở sau hàm dưới, cằm và họng đen nhạt. Phía sau cổ có một vòng xanh lục tươi. Mặt lưng lục hơi phớt vàng. Cánh lục, ở gần góc cánh có vệt đỏ. Các lông cánh sơ cấp đen nhạt phớt lục ở phiến lông ngoài và viền vàng ở phiến lông trong. Các lông đuôi giữa dài, màu xanh, phần mút đuôi vàng, các lông đuôi ở hai bên lục ở phiến lông ngoài và vàng ở phiến lông trong. Mặt bụng lục vàng.

Chim cái:
Gần giống chim đực, nhưng không có vệt đỏ ở cánh.
Chim non:
Gần giống chim cái, nhưng đầu ít màu xám và nhiều màu lục. Mắt trắng hay vàng nhạt. Mỏ trên đỏ tươi, mỏ dưới vàng. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh: 138 - 157; đuôi: 185 - 2 99; giò: 13 - 14; mỏ: 21 - 22mm
Phân bố:
Vẹt đầu xám phân bố ở Axam, Miến Điện, Thái Lan và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có ở Bắc Thái, Hòa Bình, Lai Châu, Quảng Trị và Thừa Thiên.

VẸT ĐUÔI DÀI
The long-tailed parakeet

Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu lục, phía trước mắt có một điểm đen nhạt, Hai bên đầu và một vòng rộng quanh cổ hồng thẫm. Một dải đen rộng ở gốc hàm dưới. Lưng trên lục nhạt phớt xanh nhạt. Giữa lưng xanh lục nhạt tươi. Lưng dưới hồng và trên đuôi lục. Lông đuôi giữa rất dài và mảnh màu xanh viền lục ở phần gốc lông. Các lông đuôi hai bên lục. Mặt dưới đuôi vàng nhạt.
Vai và lông bao cánh nhỏ lục vàng nhạt, lông bao cánh lớn xanh viền lục. Lông cánh sơ cấp đầu tiên đen, các lông khác đen nhưng phiến lông ngoài xanh viền lục lông cánh thứ cấp xanh. Mặt bụng lục vàng nhạt phớt xanh ở ngực, hai bên sườn hơi vàng vá dưới đuôi xanh lục nhạt.

Chim cái:
Mặt lưng có màu lục đều, chỉ có má hồng, tai phớt xanh, một dải xanh thẫm rộng ở gốc hàm dưới. Dưới cánh vàng tươi. Đuôi ngắn.
Chim non:
Có bộ lông gần giống bộ lông chim cái nhưng má lục nhạt
Kích thước:
Cánh: 150 - 158; đuôi (đực): 250; (cái): 100; giò: 13; mỏ 20mm.
Phân bố:
Loài vẹt đuôi dài phân bố ở Malaysia, Sumatra, Bocneo, các đảo lân cận.
Việt Nam: loài này có ở Nam bộ nhưng hiếm.

VẸT ĐUÔI NGẮN
The blue-rumped parrot

Chim đực trưởng thành:
Đầu và cổ xanh. Lưng trên và vai đen nâu nhạt phớt lục ở mép lông. Lưng dưới, hông và trên đuôi xanh ít nhiều phớt lục. Lông đuôi giữa lục; các lông đuôi hai bên vàng viền lục ở mép ngoài. Bao cánh lục viền vàng với một vệt đỏ mận ở gần vai. Bao cánh sơ cấp xanh viền vàng. Lông cánh sơ cấp lục ở phiến lông ngoài, đen ở phiến lông trong, càng vào trong màu lục càng nhiều dần. Cằm và họng vàng nhạt hay lục nhạt. Mặt bụng lục, ngực thường phớt xám, sườn và bụng phớt xanh. Dưới đuôi vàng tươi. Nách và dưới cánh đỏ.

Chim cái:
Nhìn chung màu lục, trừ điểm xanh ở lưng dưới. Đầu và gáy xám nhạt, hai bên đầu hơi vàng. Họng vàng, ngực lục nhạt. Mắt trắng nhạt. Da ở mắt và da gốc mỏ nâu lục nhạt. Mỏ trên vàng cam, mỏ dưới nâu sừng, ở chim cái cả hai mỏ đều nâu. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh: 113 - 126; đuôi: 44 - 50; giò: 13 - 15; mỏ: 19 - 21mm.
Phân bố:
Loài vẹt đuôi ngắn này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan đến Mã Lai.
Việt Nam chỉ mới gặp loài này ở Sóc Trăng.

VẸT CỔ HỒNG
The rose-ringed parakeet

Chim trưởng thành
Nhìn chung giống vẹt má vàng nhưng Kích thước bé hơn, đầu và mỏ hơi bé, hàm dưới màu thẫm hơn và không cỏ vệt đỏ ở cánh. Mắt vàng nhạt. Mỏ đỏ. Chân xám hay xám lục nhạt.

Kích thước:
Cánh (đực): 164 - 183, (cái): 162 - 170, đuôi (đực): 240 - 280, (cái): 190 - 240; giò: 16 - 17; mỏ: 24 - 26mm.
Phân bố:
Loài vẹt này sống ở Axam, Bengan, Miến Điện, Nam Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam,
Việt Nam: loài này khá phổ biến ở rừng miền Đông nam bộ.

VẸT LÙN
The vernal hanging parrot

Chim đực trưởng thành:
Mặt lưng lục nhạt, hông và trên đuôi đỏ thẫm. Đuôi llục thẫm. Bao cánh nhỏ, nhỡ và lông cánh tam cấp lục, bao cánh lớn lục thẫm. Lông cánh đen ở phiến lông trong và lục ở phiến lông ngoài, càng vào trong màu lục càng nhiều dần. Mặt dưới đuôi và dưới cánh xanh. Mặt bụng lục vàng nhạt, ở họng có vệt xanh nhạt.

Chim cái:
Nhìn chung màu thẫm hơn, không có vệt xanh ở họng.
Chim non. Gần giống chim cái, ở hông có lẫn một số lông lục.
Mắt trắng vàng nhạt. Mỏ đỏ tươi, chóp mỏ vàng. Da gốc mỏ hồng thẫm. Chân vàng nhạt hay vàng cam.
Kích thước:
Cánh: 83 - 97; đuôi: 36 - 38; giò: 9 - 10; mỏ: 10 - 11mm.
Phân bố:
Vẹt lùn phân bố ở Himalai, Axam, Bengan, Miến Điện, Thái Lan và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có từ Quảng Trị trở vào Nam, nhưng nhiều nhất là ở Tây Nguyên.


VẸT MÁ VÀNG
Alexandrine Parakeet

Chim trưởng thành:
Một dải đen rất hẹp bắt đầu từ góc mép mỏ kéo dài ra hai bên cổ rồi lẫn với vòng màu hồng ở phía trên cổ. Đầu lục, phớt xanh ở đỉnh đầu và gáy và chuyển thành vàng nhạt ở phía sau má, tai, hai bên cổ và họng. Phần còn lại ở mặt lưng lục nhạt. Lông đuôi giữa lục ở phần gốc, xanh nhạt ở phần ngoài, các lông đuôi ngoài lục ở phiến lông ngoài và vàng ở phiến lông trong, ở mút và ở mặt dưới lông.
Cánh lục, lông cánh sơ cấp thẫm ở mút và đen nhạt ở phiến lông trong. Một vệt đỏ hồng xỉn ở bao cánh nhỏ. Ngực vàng nhạt, chuyển thành lục ở các phần còn lại ở mặt bụng. Dưới cánh lục xanh nhạt ở các lông bé và xám ở các lông lớn.

Chim cái và chim non:
Không có vòng hồng ở cổ và không có dải đen ở sau mép mó, vệt ở góc cánh bé. Mắt trắng xanh nhạt. Mỏ đỏ. Chân vàng nhạt hay vàng cam nhạt.
Kích thước:
Cánh (đực): 190 - 203, (cái): 179 - 199; đuôi (đực): 240 - 280, (cái): 190 - 240; giò: 17 - 18; mỏ: 29 - 35mm.
Phân bố:
Loài vẹt này phân bố ở Thái Lan, Campuchia, Nam Lào và Nam Việt Nam.
ở miền Nam Việt Nam: loài này có ở nhiều ở rừng thường xanh như châu Đốc, Tây Ninh, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho và Biên Hòa.


VẸT NGỰC ĐỎ
The red-breasted parakeet

Chim đực trưởng thành:
Một dải hẹp đen bắt đầu từ trước trán kéo dài đến mép trước mắt, một dải đen khác rộng hơn bắt đầu từ gốc mỏ dưới kéo dài xuống hai bên cổ. Phần còn lại của đầu xám xanh, trước mắt và các lông ở quanh mắt phớt lục. Phần sau và hai bên cổ lục tươi. Lưng, vai, hông và trên đuôi lục hơi phớt vàng.
Các lông đuôi giữa xanh nhạt tươi, các lông hai bên lục hơi phớt xanh, mút lông hơi vàng: Lông bao cánh vàng phớt lục. Lông cánh xanh với mép ngoài viền vàng hẹp và phiến lông trong đen nhạt viền vàng. Cằm trắng nhạt; họng và ngực hung đỏ. Bụng lục phớt xanh. Dưới đuôi lục phớt vàng.

Chim cái:
Đầu màu xám, xỉn hơn và thường phớt lục thẫm. Ngực màu hồng thẫm phớt vàng nhạt, không có màu đỏ. Mỏ trên đen và mắt vàng nhạt.
Chim non:
Mặt lưng hoàn toàn lục với vài ánh tím ở đầu. Mắt vàng cam nhạt hay vàng nhạt, chim đực có mỏ trên đỏ tươi, mỏ dưới đen. Chân vàng lục hay vàng nhạt.
Kích thước:
Cánh (đực): 162 - 174, (cái): 157 - 162; đuôi (đực): 168 - 189, (cái): 145 - 171; giò: 16 - 17; mỏ: 23 - 28mm.
Phân bố:
Vẹt ngực đỏ phân bố ở Himalai, đông Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương.
Việt Nam vẹt ngực đỏ có ở khắp các vùng nhưng nhiều nhất là ở vùng trung du và vùng núi, những chỗ có nhiều cây cao rậm rạp.
Đăng nhập để bình luận

Ở Việt Nam có 4 loài chim hút mật, chim có kích thước nhỏ, tuy nhiên màu sắc rất rực rỡ nổi bật.

HÚT MẬT BỤNG VÀNG

The Mrs. Gould's sunbird
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Tương tự như phân loài Aethopyga gouldiae annamensis nhưng hông vàng tươi mà không phải nâu vàng lục, các đám xanh ở đầu và họng có ánh tím, ngực đỏ và bụng vàng nhạt.

Chim cái:
Giống chim cái phân loài Aethopyga gouldiae annamensis nhưng nhìn chung bộ lông màu xám vàng lục, hông vàng tươi. Mắt nâu thẫm. Mỏ đen. Chân nâu thẫm.
Kích thước:
Cánh: 53 - 58; đuôi: 63 - 85; giò: 14; mỏ: 14 - 15mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật bụng vàng này phân bố ở Bắc Lào và Bắc Việt Nam. Việt Nam chỉ mới bắt được các vật mẫu ở Sapa và Lâm Đồng.

HÚT MẬT HỌNG HỒNG

Van Hasselt's sunbird
Leptocoma braziliana Delacour et Jabouille, 1928
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu lục ánh thép có phớt ánh vàng. Trước mắt, má, tai, hai bên và trên cổ, lưng trên, các lông cánh thứ cấp phía trong và lông bao cánh đen nhung. Lưng dưới, vai và những lông bao cánh kề vai, hông và trên đuôi xanh ánh đỏ. Đuôi xanh xỉn viền xanh ánh thép.
Lông cánh sơ cấp và lông cánh thứ cấp phía ngoài nâu thẫm. Cằm, họng và trước cổ nâu có ánh tím hồng và trông như có vằn ngang. Ngực và bụng trên đỏ nâu. Bụng dưới, sườn và dưới đuôi đen xỉn. Nách và dưới cánh đen.

Chim cái:
Mặt lưng lục vàng với các lông ở đỉnh đầu có vệt thẫm ở giữa lông. Đuôi đen. Cánh nâu hơi viền hung. Lông đuôi giữa có viền trắng ở mút. Mặt bụng vàng xỉn, sườn và ngực có màu vàng thẫm hơn và hơi phớt xám lục. Nách và dưới cánh vàng nhạt.
Mắt và mỏ nâu thẫm. Chân đen.
Kích thước:
Cánh: 47 - 52; đuôi: 28; giò: 12; mỏ: 14mm.
Phân bố:
Loài hút mật họng hồng này phân bố ở Campuchia và Nam Việt Nam. Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Di Linh, Tây Ninh, Biên Hòa và Phú Quốc.


HÚT MẬT HỌNG TÍM

Olive-backed sunbird
Cinnyris flammaxillaris Blyth, 1845
Arachnechthra rhizophorae Swinhoe, 1869
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Lông mặt lưng và mép các lông cánh lục vàng, trên đuôi hơi vàng hơn. Lông cánh nâu. Lông đuôi đen nhạt với mút trắng. Cằm và họng tím có ánh thép viền xanh ở hai bên họng và viền đỏ đồng và đen ở mép dưới. Mặt bụng vàng tươi. Hai bên ngực có túm lông vàng cam.

Chim cái:
Mặt lưng nâu phớt vàng lục, mặt bụng vàng hơi phớt xám lục.
Mắt nâu. Mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh: 45 - 55; đuôi: 32 - 34; giò: 14 - 15; mỏ: 15 - 17mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật họng tím này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan, Nam Lào, Camphuchia và Nam Việt Nam. Ở Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Phú Khánh, Bình Thuận, Kontum, Di Linh và Tây Ninh, Đồng Nai cho đến Cà Mau.

HÚT MẬT NGỰC ĐỎ

The black-throated sunbird
Aethopyga saturata Deignan
Aethopyga petersi Deignan, 1948
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Trán, đỉnh đầu, gáy và trên cổ xanh ánh thép có pha thêm ánh đỏ. Hai bên đầu đen xỉn. Hai bên cổ, lưng và những lông vai ngắn nhất đỏ xỉn. Lông bao cánh nhỏ, các lông vai dài nhất và một dải tiếp phía dưới phần đỏ ở lưng màu đen. Tiếp theo sau là dải vàng. Phần còn lạI của hông, trên đuôi và 3/4 phần gốc của các lông đuôi giữa xanh ánh thép.
Phần còn lại của đuôI, lông bao cánh nhỡ và lớn và các lông cánh nâu đen nhạt. Lông đuôi hai bên có mút trắng. Cằm đen. Họng xanh có ánh đỏ. Ngực trên đen, các lông hai bên ngực có mút đỏ. Phần còn lại của mặt bụng vàng nhạt, giữa bụng phớt xám nhạt, ngực có vạch đỏ thẫm. Dưới cánh và nách trắng vàng nhạt.

Chim cái:
Mắt lưng lục vàng phớt xám, các lông ở đỉnh đầu có vạch thẫm ở giữa lông. Hông vàng nhạt. Mặt bụng lục xám, bụng hơi nhạt hơn. Đuôi đen nhạt có mút lông nhạt, trừ đôi lông giữa. Dưới cánh và nách trắng nhạt.
Chim cái của loài này khác với chim cái của loài Aethopyga siparaja ở các điểm: hông vàng nhạt, dưới đuôi vàng, cằm và họng hơi xám hơn. Mắt nâu thẫm hay nâu đỏ. Mỏ đen: Giò nâu thẫm hay đen.
Kích thước:
Cánh: 42 - 56; đuôi: 63 - 69; giò: 14 - 15; mỏ: 18 - 20mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan, Tây Nam Trung Quốc (Vân Nam) và Bắc Đông Dương. Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Lào Cai và Cao Bằng (Bảo Lạc), Lâm Đồng.
Đăng nhập để bình luận

Có 5 loại chào mào ở Việt Nam

CHÀO MÀO
The red-whiskered bulbul

Chim trưởng thành:
Mào dài và nhọn. Trán, đỉnh đầu, mào, trước mắt và hai bên đầu đen. Mặt lưng, kể cả cánh và đuôi nâu, các lông cánh sơ cấp viền màu nhạt hơn và mút các lông đuôi hai bên có vệt trắng. Phía dưới mắt có việt đỏ thắm. Má trắng viền đen.
Cằm và họng trắng. Hai bên ngực có vệt nâu thẫm lớn tạo thành vòng đứt đoạn ở trước ngực. Bụng trắng nhạt hay trắng, hai bên sườn và đùi nâu nhạt. Dưới đuôi đỏ. Mắt nâu. Mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh: (đực): 85 - 90, (cái): 82 - 87; đuôi: 86 - 96; giò: 21 - 22; mỏ: 14 - 15mm.
Phân bố:
Chào mào phân bố ở Bắc ấn Độ, Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương. Ở Việt Nam loài này rất phổ biến từ biên giới phía Bắc cho đến Hải Vân và Kontum.

CHÀO MÀO VÀNG ĐẦU ĐEN
Blackcrested Bulbul

Chào mào vàng đầu đen là một thành viên của Họ Chào Mào ( Bulbul). Nó được tìm thấy trong các khu rừng ở Đông Nam Á. Loài chim này có một bộ lông màu vàng chủ yếu là ô-liu với một cái đầu hơi xanh đen bóng. Một biến đổi màu xám nơi mà hầu hết ô liu vàng được thay thế bằng màu xám . Các đơn vị phân loại đặc biệt từ Andamans đầu ô liu, và ngày càng được xem như là một loài riêng biệt, các Chào Mào Andaman (P. fuscoflavescens). đầu đen tương tự như Chào mào gồ đen, nhưng có đôi mắt xanh (mặc dù ở chim non khó nhận dạng), một màu vàng rộng từ đầu đến đuôi, và không bao giờ cho thấy màu đen trên đầu (tuy nhiên, một số phân loài của mào đen cũng cơ bản Không có mào (crestless), nhưng lại có cổ màu đỏ hoặc màu vàng). Chào mào vàng đầu đen chủ yếu là ăn hoa quả và quả nhỏ, nhưng cũng có côn trùng. Nó thường sinh sống ở các đàn nhỏ, gồm 6-8 cá thể.

BÔNG LAU MÀY TRẲNG
The yellow-vented bulbul

Pycnonotus goiavier (Hume)
Otocompsa personata Hume, 1873.
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim trưởng thành:
Mào ngắn và dày. Mặt lưng nâu đất, dọc giữa lông mày thẫm hơn hai bên, mép các lông cánh sơ cấp có phớt lục vàng. Mép cánh trắng vàng nhạt. Phía trên mắt có dảI rộng trắng kéo dài từ sau mỏ đến gáy. Cằm và họng trắng. Tai nâu rất nhạt. Mặt bụng trắng, có vệt nâu ngực và hai bên sườn. Dưới đuôi và phần sau bụng vàng tươi. Đùi nâu nhạt hơi phớt vàng.
Mắt nâu, mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh (đực): 85 - 94, (cái): 80 - 88; đuôi: 83; giò: 20; mỏ: 15mm
Phân bố:
Loài bông lau này phân bố ở Nam Thái Lan, Miến Điện, Nam Đông Dương, Mã Lai và Xummatra.
Việt Nam chỉ mới tìm thấy loài này ở Biên Hoà.

CÀNH CẠCH ĐEN Chào mào đen
The black bulbul

Hypsipetes leucocephalus (Gmelin)
Turdus leucocephalus Gmelin, 1788
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Đầu, cổ và phần trên ngực trắng. Toàn phần còn lại của bộ lông đen hay nhạt, thỉnh thoảng có vệt nâu. Dưới đuôi thỉnh thoảng có viền trắng
Chim cái: Có bộ lông như chim đực nhưng mặt bụng thường màu xám thẫm. Bộ lông của phân loài này có nhiều biến đổi, có thể gặp những cá thể mà đầu có ít nhiều lông đen.
Mắt nâu thẫm, da mí mắt vàng. Mỏ và chân đỏ tươi.
Kích thước:
Cánh (đực): 119 - 125, (cái): 110 - 114; đuôi (đực); 95 - 102 (cái): 89 - 93: giò 17 - 18: mỏ 21 - 23mm.
Phân bố:
Phân loài cành cạch này phân bố ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương. Ở Việt Nam, về mùa Đông phân loài này có ở các vùng núi rừng từ biên giới phía Bắc cho đến đèo Hải Vân, Lâm Đồng (Bidoup Núi Bà).

CÀNH CẠCH NHỎ ĐÍT VÀNG
Buff-vented Bulbul

Hypsipetes charlottae Deignan, 1948
Hypsipetes charlottae Deignan, 1948
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim trưởng thành:
Nhìn chung rất giống phân loài Hypsipetes proinquus Mặt lưng xám hơi phớt vàng, đỉnh đầu, trên đuôi, đuôi và cánh nâu. Trước mắt và dảI lông mày vàng nhạt xám mờ. Cằm và họng xám nhạt. Ngực, bụng vàng xám chuyển thành hung nâu và ở bụng và dưới đuôi, nhưng màu nhạt và xỉn hơn.
Mắt xám nâu nhạt. Mỏ xám nâu. Chân hồng nâu.
Phân bố:
Phân loài này phân bố ở Đông Nam Thái Lan, Campuchia và Nam Việt Nam. Việt Nam đã bắt được phân loài này ở Kontum, đắc tô và Di Linh. Múi Né. Theo Deingan thì các vật mẫu bắt được ở Nam bộ thuộc phân loài Hypsipetes charlottae innectens Deignan.
Đăng nhập để bình luận

Xem các bài viết khác click vào đây



Trang chủ | Khám phá | Kinh nghiệm | Mua bán | Báo giá | Chim cảnh | Hỏi đáp | Đăng ký