Nuôi chim Thanh Tước

Thứ 5 Tháng 2 27, 2014 1:31 am

Người ta còn gọi chim thanh tước là chim Verdin
Chim Thanh Tước , đúng như tên gọi vì toàn thân chim được bao phủ bởi lớp lông màu xanh lá cây , trừ phần đàu điểm tô đến bốn màu khá nhau nữa . Loại chim nầy vì có màu sắc xinh xinh , giọng hót cũng hay và cực siêng hót nên một số người ưa thích . Ở châu Âu , người ta thích nuôi loại chim nầy.

Xem thêm Các loài chim cảnh

Xuất xứ : chim thanh tước xuất phát từ Ceylan (Tích Lan ) sau đó tràn sang các quốc gia lân cận , rồi đến châu Âu . Loại chim nầy , người Pháp đặt tên là Verdin à front d'or, và đem vào Việt Nam . Hiện nay chim thanh tước sống ở rừng Bình Tuy trờ ra các tỉnh miền Trung . Vùng cao nguyên Lâm Đồng đổ lên cũng có rất nhiều.

Hình Dáng : Chim Thanh Tước lơn hon con Chim Chích Chòe Lửa một tí , vóc dáng thon thả , trông đẹp mắt . Từ đầu cho đên chót đuôi chim dài độ 15cm.

Toàn thân chim có bộ lông màu xanh lá cây, và màu vàng lục tươi ,dưới cổ và ức thì lông màu đen. Ở hàm dưới và 2 bên mép chim thanh tước có điểm xuyết vệt dài màu xanh dương. Còn 2 đàu cánh có 2 vệt lông xanh biếc da trời. Chim Thanh Tước có mỏ nhọn và dài , lưỡi cũng dài , như loài chim hút mật.
Hình ảnh

Cách nuôi chim bổi : Chim Thanh Tước tuy sống ở trong rừng , không gần gũi với con người , nhưng chim bổi đánh bắt về lại không nhút nhát quá độ .Trong khi con Chim Chích Chòe Than sống gần người mà lại nhát hơn .

Trong đời sống tự nhiên , chim thanh tước ăn sâu bọ , và các loại trái rừng chín có vị ngọt, và hút mật . Vì vậy , khi nuôi chim trong lồng , trước hết ta cũng nên tìm những thức ăn thích hợp với chúng để nuôi trong tuần lễ đầu . Ta nên cho chúng ăn chuối chín , cào cào , sâu . Những ngày sau , ta tập chim thích nghi dần với thức ăn mới là bột đậu phộng trộn trứng ( thức ăn của chim chim chích chòe),bằng cách khoét một lổ nhơ giữa trái chuối, rồi đổ bột đậu phộng trứng vào bên trong . Như vậy là tập cho chim ăn chuoios rồi ăn luôn bột đậu phộng trộn trứng .Ngoài ra , ta cũng cho chim thanh tước bổi ăn cào cào , và uống nước mật để chim khỏi mất sức.

Thức Ăn : Người ta dùng một cái cóng nhỏ đựng một ít nước đủ cho chim vừa uống trong ngày , rồi nhỏ vào nước mấy giọt mật ông cho chim uống . Chim Thanh Tước tỏ ra thích khẩu với nước mật này . Có người pha nước đường thật ngọt cho chim uống , cũng đem lại kết quả tốt.

Thức ăn chính của chim thanh tước mà mình nên tập là bột đậu phộng trộn trứng và cào cào . Đó là thức ăn giúp cho chim sung sức, hót nhiều .Chuôi chín thì chim thanh tước rất thích, nhưng ta không nên cho ăn nhiều , mỗi tuần chỉ vài lần là đủ.
Hình ảnh

Lồng chim và cách chăm sóc : Chim Thanh Tước cũng như chim chích chòe than không bay nhảy nhiều trong lồng nuôi vì vậy lồng nhốt chim không cần lớn lắm . Ta có thể dùng loại lồng cỡ trung tức là loại lồng 54 nan là vừa.

Việc chăm sóc cho chim thanh tước không mất nhiều thì giờ bằng các loại chim khác .Mọt vài ngày ,ta cho chim tắm 1 lần , rồi vệ sinh lồng sạch sẽ.
Trong thời kỳ chim thanh tước thay lông ,từ hai đến ba tháng nen cho chim ăn nhiều cào cào hơn , và tạm thay bột đậu phọng trộn trứng bằng bột gạo trộn trứng để thu ngắn thời gian thay lông lại . Sau khi chim thay lông xong , ta cho chim ăn lại bột đậu phộng trộn trứng để chim mau sung.

Chim thanh tước rất siêng hót , tiếng hót tuy không to nhưng vang xa . Mỗi sáng , chim có thể hót đến vài giờ , và sau đó thì hót lai rai suốt cả ngày.

Nếu nuôi lâu , ta có thể thả chim bay nhảy tự do ngoài vườn . Lúc đói , chim sẽ tự động trở về lồng, như các loại chim sáo , chim cưỡng vây, dĩ nhiên là không được để chó mèo quấy phá nó.

Website chuyên cung cấp mua bán các loại chim cảnh.

Thông báo mới: Web mới nâng cấp. Bạn muốn mua bán chim cảnh? Hãy tham gia web, sản phẩm của bạn sẽ được quảng bá hiệu quả.
ĐT 0933145858 Đắk Lắk 58 thôn hòa nam, xã ea nuôl, huyện buôn đôn, tỉnh daklak
Giá 1.500.000vnđ Còn hàng 1
Chim không tật lỗi, hót xòe, nhiều giọng
Bình luận
ShopBanChimVN: bác ở xa quá, nếu ở gần em cũng qua mua, chúc chim nhanh bay 1 ngày trước
kunbmt: Thank bác 1 ngày trước
Đăng nhập để bình luận

ĐT 0909655954 TP HCM Q8
Giá 3.000.000vnđ Còn hàng 1
Cần bán nhồng đang tập nói ai thích xin lh
Đăng nhập để bình luận

ĐT 09666695497 Hà Nội 2A/ 13 / ngõ 383/ Tam Trinh
Giá KM 450.000vnđ 500.000vnđ Còn hàng 1
Chim sơn ca huế, 6 tháng lồng, chim tương đối lành, đã hót gió, chân cao, mào dựng, to con.
Đăng nhập để bình luận

Xem các sản phẩm khác click vào đây




Mạng xã hội chim cảnh. Chia sẻ kinh nghiệm, giao lưu chim cảnh.

Thông báo mới: Web mới nâng cấp. Bạn muốn tham gia mạng xã hội chim cảnh? Hãy tham gia web
8 loại vẹt ở Việt Nam

VẸT ĐẦU HỒNG
Blossom-headed Parakeet

Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu và hai bên đầu hồng tươi má và gáy hồng phớt bạc Các lông ở gốc hàm dưới, cằm, họng và một dải ở dưới má đen kéo dài thành vòng ở hai bên và sau cổ. phần còn lại ở mặt lưng lục nhạt, phớt vàng nhạt ở phần trên lưng. Đuôi xanh nhạt, với phần gốc lông lục nhạt và mút lông vàng trắng nhạt. Cánh lục, các lông cánh và lông bao cánh đều viền màu nhạt hơn, phiến lông trong của các lông cánh sơ cấp đen nhạt. Ở lông bao cánh nhỡ có một vệt đỏ. Mặt bụng vàng lục nhạt. Dưới cánh và nách lục.

Chim cái:
Bầu xám hồng viền vàng, không có vòng đen ở cổ. Mắt trắng hay vàng nhạt. Mỏ trên vàng cam, mỏ dưới đen. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh (đực): 135 - 146, (cái): 131 - 141; đuôi (đực): 149 - 158, (cái): 145 - 156; giò 12 - 13; mỏ 17 - 19mm.
Phân bố:
Vẹt đầu hồng phân bố ở Bengan, Nêpan, Axam, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có ở khắp các rừng những chỗ tương đối không rậm rạp từ Quảng Trị trở vào Nam.

VẸT ĐẦU XÁM
Slaty-headed Parakeet

Chim đực trưởng thành:
Toàn bộ đầu xám trừ các lông ở sau hàm dưới, cằm và họng đen nhạt. Phía sau cổ có một vòng xanh lục tươi. Mặt lưng lục hơi phớt vàng. Cánh lục, ở gần góc cánh có vệt đỏ. Các lông cánh sơ cấp đen nhạt phớt lục ở phiến lông ngoài và viền vàng ở phiến lông trong. Các lông đuôi giữa dài, màu xanh, phần mút đuôi vàng, các lông đuôi ở hai bên lục ở phiến lông ngoài và vàng ở phiến lông trong. Mặt bụng lục vàng.

Chim cái:
Gần giống chim đực, nhưng không có vệt đỏ ở cánh.
Chim non:
Gần giống chim cái, nhưng đầu ít màu xám và nhiều màu lục. Mắt trắng hay vàng nhạt. Mỏ trên đỏ tươi, mỏ dưới vàng. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh: 138 - 157; đuôi: 185 - 2 99; giò: 13 - 14; mỏ: 21 - 22mm
Phân bố:
Vẹt đầu xám phân bố ở Axam, Miến Điện, Thái Lan và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có ở Bắc Thái, Hòa Bình, Lai Châu, Quảng Trị và Thừa Thiên.

VẸT ĐUÔI DÀI
The long-tailed parakeet

Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu lục, phía trước mắt có một điểm đen nhạt, Hai bên đầu và một vòng rộng quanh cổ hồng thẫm. Một dải đen rộng ở gốc hàm dưới. Lưng trên lục nhạt phớt xanh nhạt. Giữa lưng xanh lục nhạt tươi. Lưng dưới hồng và trên đuôi lục. Lông đuôi giữa rất dài và mảnh màu xanh viền lục ở phần gốc lông. Các lông đuôi hai bên lục. Mặt dưới đuôi vàng nhạt.
Vai và lông bao cánh nhỏ lục vàng nhạt, lông bao cánh lớn xanh viền lục. Lông cánh sơ cấp đầu tiên đen, các lông khác đen nhưng phiến lông ngoài xanh viền lục lông cánh thứ cấp xanh. Mặt bụng lục vàng nhạt phớt xanh ở ngực, hai bên sườn hơi vàng vá dưới đuôi xanh lục nhạt.

Chim cái:
Mặt lưng có màu lục đều, chỉ có má hồng, tai phớt xanh, một dải xanh thẫm rộng ở gốc hàm dưới. Dưới cánh vàng tươi. Đuôi ngắn.
Chim non:
Có bộ lông gần giống bộ lông chim cái nhưng má lục nhạt
Kích thước:
Cánh: 150 - 158; đuôi (đực): 250; (cái): 100; giò: 13; mỏ 20mm.
Phân bố:
Loài vẹt đuôi dài phân bố ở Malaysia, Sumatra, Bocneo, các đảo lân cận.
Việt Nam: loài này có ở Nam bộ nhưng hiếm.

VẸT ĐUÔI NGẮN
The blue-rumped parrot

Chim đực trưởng thành:
Đầu và cổ xanh. Lưng trên và vai đen nâu nhạt phớt lục ở mép lông. Lưng dưới, hông và trên đuôi xanh ít nhiều phớt lục. Lông đuôi giữa lục; các lông đuôi hai bên vàng viền lục ở mép ngoài. Bao cánh lục viền vàng với một vệt đỏ mận ở gần vai. Bao cánh sơ cấp xanh viền vàng. Lông cánh sơ cấp lục ở phiến lông ngoài, đen ở phiến lông trong, càng vào trong màu lục càng nhiều dần. Cằm và họng vàng nhạt hay lục nhạt. Mặt bụng lục, ngực thường phớt xám, sườn và bụng phớt xanh. Dưới đuôi vàng tươi. Nách và dưới cánh đỏ.

Chim cái:
Nhìn chung màu lục, trừ điểm xanh ở lưng dưới. Đầu và gáy xám nhạt, hai bên đầu hơi vàng. Họng vàng, ngực lục nhạt. Mắt trắng nhạt. Da ở mắt và da gốc mỏ nâu lục nhạt. Mỏ trên vàng cam, mỏ dưới nâu sừng, ở chim cái cả hai mỏ đều nâu. Chân lục xỉn.
Kích thước:
Cánh: 113 - 126; đuôi: 44 - 50; giò: 13 - 15; mỏ: 19 - 21mm.
Phân bố:
Loài vẹt đuôi ngắn này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan đến Mã Lai.
Việt Nam chỉ mới gặp loài này ở Sóc Trăng.

VẸT CỔ HỒNG
The rose-ringed parakeet

Chim trưởng thành
Nhìn chung giống vẹt má vàng nhưng Kích thước bé hơn, đầu và mỏ hơi bé, hàm dưới màu thẫm hơn và không cỏ vệt đỏ ở cánh. Mắt vàng nhạt. Mỏ đỏ. Chân xám hay xám lục nhạt.

Kích thước:
Cánh (đực): 164 - 183, (cái): 162 - 170, đuôi (đực): 240 - 280, (cái): 190 - 240; giò: 16 - 17; mỏ: 24 - 26mm.
Phân bố:
Loài vẹt này sống ở Axam, Bengan, Miến Điện, Nam Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam,
Việt Nam: loài này khá phổ biến ở rừng miền Đông nam bộ.

VẸT LÙN
The vernal hanging parrot

Chim đực trưởng thành:
Mặt lưng lục nhạt, hông và trên đuôi đỏ thẫm. Đuôi llục thẫm. Bao cánh nhỏ, nhỡ và lông cánh tam cấp lục, bao cánh lớn lục thẫm. Lông cánh đen ở phiến lông trong và lục ở phiến lông ngoài, càng vào trong màu lục càng nhiều dần. Mặt dưới đuôi và dưới cánh xanh. Mặt bụng lục vàng nhạt, ở họng có vệt xanh nhạt.

Chim cái:
Nhìn chung màu thẫm hơn, không có vệt xanh ở họng.
Chim non. Gần giống chim cái, ở hông có lẫn một số lông lục.
Mắt trắng vàng nhạt. Mỏ đỏ tươi, chóp mỏ vàng. Da gốc mỏ hồng thẫm. Chân vàng nhạt hay vàng cam.
Kích thước:
Cánh: 83 - 97; đuôi: 36 - 38; giò: 9 - 10; mỏ: 10 - 11mm.
Phân bố:
Vẹt lùn phân bố ở Himalai, Axam, Bengan, Miến Điện, Thái Lan và Đông Dương.
Việt Nam: loài này có từ Quảng Trị trở vào Nam, nhưng nhiều nhất là ở Tây Nguyên.


VẸT MÁ VÀNG
Alexandrine Parakeet

Chim trưởng thành:
Một dải đen rất hẹp bắt đầu từ góc mép mỏ kéo dài ra hai bên cổ rồi lẫn với vòng màu hồng ở phía trên cổ. Đầu lục, phớt xanh ở đỉnh đầu và gáy và chuyển thành vàng nhạt ở phía sau má, tai, hai bên cổ và họng. Phần còn lại ở mặt lưng lục nhạt. Lông đuôi giữa lục ở phần gốc, xanh nhạt ở phần ngoài, các lông đuôi ngoài lục ở phiến lông ngoài và vàng ở phiến lông trong, ở mút và ở mặt dưới lông.
Cánh lục, lông cánh sơ cấp thẫm ở mút và đen nhạt ở phiến lông trong. Một vệt đỏ hồng xỉn ở bao cánh nhỏ. Ngực vàng nhạt, chuyển thành lục ở các phần còn lại ở mặt bụng. Dưới cánh lục xanh nhạt ở các lông bé và xám ở các lông lớn.

Chim cái và chim non:
Không có vòng hồng ở cổ và không có dải đen ở sau mép mó, vệt ở góc cánh bé. Mắt trắng xanh nhạt. Mỏ đỏ. Chân vàng nhạt hay vàng cam nhạt.
Kích thước:
Cánh (đực): 190 - 203, (cái): 179 - 199; đuôi (đực): 240 - 280, (cái): 190 - 240; giò: 17 - 18; mỏ: 29 - 35mm.
Phân bố:
Loài vẹt này phân bố ở Thái Lan, Campuchia, Nam Lào và Nam Việt Nam.
ở miền Nam Việt Nam: loài này có ở nhiều ở rừng thường xanh như châu Đốc, Tây Ninh, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho và Biên Hòa.


VẸT NGỰC ĐỎ
The red-breasted parakeet

Chim đực trưởng thành:
Một dải hẹp đen bắt đầu từ trước trán kéo dài đến mép trước mắt, một dải đen khác rộng hơn bắt đầu từ gốc mỏ dưới kéo dài xuống hai bên cổ. Phần còn lại của đầu xám xanh, trước mắt và các lông ở quanh mắt phớt lục. Phần sau và hai bên cổ lục tươi. Lưng, vai, hông và trên đuôi lục hơi phớt vàng.
Các lông đuôi giữa xanh nhạt tươi, các lông hai bên lục hơi phớt xanh, mút lông hơi vàng: Lông bao cánh vàng phớt lục. Lông cánh xanh với mép ngoài viền vàng hẹp và phiến lông trong đen nhạt viền vàng. Cằm trắng nhạt; họng và ngực hung đỏ. Bụng lục phớt xanh. Dưới đuôi lục phớt vàng.

Chim cái:
Đầu màu xám, xỉn hơn và thường phớt lục thẫm. Ngực màu hồng thẫm phớt vàng nhạt, không có màu đỏ. Mỏ trên đen và mắt vàng nhạt.
Chim non:
Mặt lưng hoàn toàn lục với vài ánh tím ở đầu. Mắt vàng cam nhạt hay vàng nhạt, chim đực có mỏ trên đỏ tươi, mỏ dưới đen. Chân vàng lục hay vàng nhạt.
Kích thước:
Cánh (đực): 162 - 174, (cái): 157 - 162; đuôi (đực): 168 - 189, (cái): 145 - 171; giò: 16 - 17; mỏ: 23 - 28mm.
Phân bố:
Vẹt ngực đỏ phân bố ở Himalai, đông Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương.
Việt Nam vẹt ngực đỏ có ở khắp các vùng nhưng nhiều nhất là ở vùng trung du và vùng núi, những chỗ có nhiều cây cao rậm rạp.
Đăng nhập để bình luận

Ở Việt Nam có 4 loài chim hút mật, chim có kích thước nhỏ, tuy nhiên màu sắc rất rực rỡ nổi bật.

HÚT MẬT BỤNG VÀNG

The Mrs. Gould's sunbird
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Tương tự như phân loài Aethopyga gouldiae annamensis nhưng hông vàng tươi mà không phải nâu vàng lục, các đám xanh ở đầu và họng có ánh tím, ngực đỏ và bụng vàng nhạt.

Chim cái:
Giống chim cái phân loài Aethopyga gouldiae annamensis nhưng nhìn chung bộ lông màu xám vàng lục, hông vàng tươi. Mắt nâu thẫm. Mỏ đen. Chân nâu thẫm.
Kích thước:
Cánh: 53 - 58; đuôi: 63 - 85; giò: 14; mỏ: 14 - 15mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật bụng vàng này phân bố ở Bắc Lào và Bắc Việt Nam. Việt Nam chỉ mới bắt được các vật mẫu ở Sapa và Lâm Đồng.

HÚT MẬT HỌNG HỒNG

Van Hasselt's sunbird
Leptocoma braziliana Delacour et Jabouille, 1928
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Đỉnh đầu lục ánh thép có phớt ánh vàng. Trước mắt, má, tai, hai bên và trên cổ, lưng trên, các lông cánh thứ cấp phía trong và lông bao cánh đen nhung. Lưng dưới, vai và những lông bao cánh kề vai, hông và trên đuôi xanh ánh đỏ. Đuôi xanh xỉn viền xanh ánh thép.
Lông cánh sơ cấp và lông cánh thứ cấp phía ngoài nâu thẫm. Cằm, họng và trước cổ nâu có ánh tím hồng và trông như có vằn ngang. Ngực và bụng trên đỏ nâu. Bụng dưới, sườn và dưới đuôi đen xỉn. Nách và dưới cánh đen.

Chim cái:
Mặt lưng lục vàng với các lông ở đỉnh đầu có vệt thẫm ở giữa lông. Đuôi đen. Cánh nâu hơi viền hung. Lông đuôi giữa có viền trắng ở mút. Mặt bụng vàng xỉn, sườn và ngực có màu vàng thẫm hơn và hơi phớt xám lục. Nách và dưới cánh vàng nhạt.
Mắt và mỏ nâu thẫm. Chân đen.
Kích thước:
Cánh: 47 - 52; đuôi: 28; giò: 12; mỏ: 14mm.
Phân bố:
Loài hút mật họng hồng này phân bố ở Campuchia và Nam Việt Nam. Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Di Linh, Tây Ninh, Biên Hòa và Phú Quốc.


HÚT MẬT HỌNG TÍM

Olive-backed sunbird
Cinnyris flammaxillaris Blyth, 1845
Arachnechthra rhizophorae Swinhoe, 1869
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Lông mặt lưng và mép các lông cánh lục vàng, trên đuôi hơi vàng hơn. Lông cánh nâu. Lông đuôi đen nhạt với mút trắng. Cằm và họng tím có ánh thép viền xanh ở hai bên họng và viền đỏ đồng và đen ở mép dưới. Mặt bụng vàng tươi. Hai bên ngực có túm lông vàng cam.

Chim cái:
Mặt lưng nâu phớt vàng lục, mặt bụng vàng hơi phớt xám lục.
Mắt nâu. Mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh: 45 - 55; đuôi: 32 - 34; giò: 14 - 15; mỏ: 15 - 17mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật họng tím này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan, Nam Lào, Camphuchia và Nam Việt Nam. Ở Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Phú Khánh, Bình Thuận, Kontum, Di Linh và Tây Ninh, Đồng Nai cho đến Cà Mau.

HÚT MẬT NGỰC ĐỎ

The black-throated sunbird
Aethopyga saturata Deignan
Aethopyga petersi Deignan, 1948
Họ: Hút mật Nectariniidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Trán, đỉnh đầu, gáy và trên cổ xanh ánh thép có pha thêm ánh đỏ. Hai bên đầu đen xỉn. Hai bên cổ, lưng và những lông vai ngắn nhất đỏ xỉn. Lông bao cánh nhỏ, các lông vai dài nhất và một dải tiếp phía dưới phần đỏ ở lưng màu đen. Tiếp theo sau là dải vàng. Phần còn lạI của hông, trên đuôi và 3/4 phần gốc của các lông đuôi giữa xanh ánh thép.
Phần còn lại của đuôI, lông bao cánh nhỡ và lớn và các lông cánh nâu đen nhạt. Lông đuôi hai bên có mút trắng. Cằm đen. Họng xanh có ánh đỏ. Ngực trên đen, các lông hai bên ngực có mút đỏ. Phần còn lại của mặt bụng vàng nhạt, giữa bụng phớt xám nhạt, ngực có vạch đỏ thẫm. Dưới cánh và nách trắng vàng nhạt.

Chim cái:
Mắt lưng lục vàng phớt xám, các lông ở đỉnh đầu có vạch thẫm ở giữa lông. Hông vàng nhạt. Mặt bụng lục xám, bụng hơi nhạt hơn. Đuôi đen nhạt có mút lông nhạt, trừ đôi lông giữa. Dưới cánh và nách trắng nhạt.
Chim cái của loài này khác với chim cái của loài Aethopyga siparaja ở các điểm: hông vàng nhạt, dưới đuôi vàng, cằm và họng hơi xám hơn. Mắt nâu thẫm hay nâu đỏ. Mỏ đen: Giò nâu thẫm hay đen.
Kích thước:
Cánh: 42 - 56; đuôi: 63 - 69; giò: 14 - 15; mỏ: 18 - 20mm.
Phân bố:
Phân loài hút mật này phân bố ở Miến Điện, Thái Lan, Tây Nam Trung Quốc (Vân Nam) và Bắc Đông Dương. Việt Nam đã bắt được các vật mẫu ở Lào Cai và Cao Bằng (Bảo Lạc), Lâm Đồng.
Đăng nhập để bình luận

Có 5 loại chào mào ở Việt Nam

CHÀO MÀO
The red-whiskered bulbul

Chim trưởng thành:
Mào dài và nhọn. Trán, đỉnh đầu, mào, trước mắt và hai bên đầu đen. Mặt lưng, kể cả cánh và đuôi nâu, các lông cánh sơ cấp viền màu nhạt hơn và mút các lông đuôi hai bên có vệt trắng. Phía dưới mắt có việt đỏ thắm. Má trắng viền đen.
Cằm và họng trắng. Hai bên ngực có vệt nâu thẫm lớn tạo thành vòng đứt đoạn ở trước ngực. Bụng trắng nhạt hay trắng, hai bên sườn và đùi nâu nhạt. Dưới đuôi đỏ. Mắt nâu. Mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh: (đực): 85 - 90, (cái): 82 - 87; đuôi: 86 - 96; giò: 21 - 22; mỏ: 14 - 15mm.
Phân bố:
Chào mào phân bố ở Bắc ấn Độ, Bắc Miến Điện, Bắc Thái Lan, Nam Trung Quốc và Đông Dương. Ở Việt Nam loài này rất phổ biến từ biên giới phía Bắc cho đến Hải Vân và Kontum.

CHÀO MÀO VÀNG ĐẦU ĐEN
Blackcrested Bulbul

Chào mào vàng đầu đen là một thành viên của Họ Chào Mào ( Bulbul). Nó được tìm thấy trong các khu rừng ở Đông Nam Á. Loài chim này có một bộ lông màu vàng chủ yếu là ô-liu với một cái đầu hơi xanh đen bóng. Một biến đổi màu xám nơi mà hầu hết ô liu vàng được thay thế bằng màu xám . Các đơn vị phân loại đặc biệt từ Andamans đầu ô liu, và ngày càng được xem như là một loài riêng biệt, các Chào Mào Andaman (P. fuscoflavescens). đầu đen tương tự như Chào mào gồ đen, nhưng có đôi mắt xanh (mặc dù ở chim non khó nhận dạng), một màu vàng rộng từ đầu đến đuôi, và không bao giờ cho thấy màu đen trên đầu (tuy nhiên, một số phân loài của mào đen cũng cơ bản Không có mào (crestless), nhưng lại có cổ màu đỏ hoặc màu vàng). Chào mào vàng đầu đen chủ yếu là ăn hoa quả và quả nhỏ, nhưng cũng có côn trùng. Nó thường sinh sống ở các đàn nhỏ, gồm 6-8 cá thể.

BÔNG LAU MÀY TRẲNG
The yellow-vented bulbul

Pycnonotus goiavier (Hume)
Otocompsa personata Hume, 1873.
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim trưởng thành:
Mào ngắn và dày. Mặt lưng nâu đất, dọc giữa lông mày thẫm hơn hai bên, mép các lông cánh sơ cấp có phớt lục vàng. Mép cánh trắng vàng nhạt. Phía trên mắt có dảI rộng trắng kéo dài từ sau mỏ đến gáy. Cằm và họng trắng. Tai nâu rất nhạt. Mặt bụng trắng, có vệt nâu ngực và hai bên sườn. Dưới đuôi và phần sau bụng vàng tươi. Đùi nâu nhạt hơi phớt vàng.
Mắt nâu, mỏ và chân đen.
Kích thước:
Cánh (đực): 85 - 94, (cái): 80 - 88; đuôi: 83; giò: 20; mỏ: 15mm
Phân bố:
Loài bông lau này phân bố ở Nam Thái Lan, Miến Điện, Nam Đông Dương, Mã Lai và Xummatra.
Việt Nam chỉ mới tìm thấy loài này ở Biên Hoà.

CÀNH CẠCH ĐEN Chào mào đen
The black bulbul

Hypsipetes leucocephalus (Gmelin)
Turdus leucocephalus Gmelin, 1788
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim đực trưởng thành:
Đầu, cổ và phần trên ngực trắng. Toàn phần còn lại của bộ lông đen hay nhạt, thỉnh thoảng có vệt nâu. Dưới đuôi thỉnh thoảng có viền trắng
Chim cái: Có bộ lông như chim đực nhưng mặt bụng thường màu xám thẫm. Bộ lông của phân loài này có nhiều biến đổi, có thể gặp những cá thể mà đầu có ít nhiều lông đen.
Mắt nâu thẫm, da mí mắt vàng. Mỏ và chân đỏ tươi.
Kích thước:
Cánh (đực): 119 - 125, (cái): 110 - 114; đuôi (đực); 95 - 102 (cái): 89 - 93: giò 17 - 18: mỏ 21 - 23mm.
Phân bố:
Phân loài cành cạch này phân bố ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương. Ở Việt Nam, về mùa Đông phân loài này có ở các vùng núi rừng từ biên giới phía Bắc cho đến đèo Hải Vân, Lâm Đồng (Bidoup Núi Bà).

CÀNH CẠCH NHỎ ĐÍT VÀNG
Buff-vented Bulbul

Hypsipetes charlottae Deignan, 1948
Hypsipetes charlottae Deignan, 1948
Họ: Chào mào Pycnonotidae
Bộ: Sẻ Passeriformes
Chim trưởng thành:
Nhìn chung rất giống phân loài Hypsipetes proinquus Mặt lưng xám hơi phớt vàng, đỉnh đầu, trên đuôi, đuôi và cánh nâu. Trước mắt và dảI lông mày vàng nhạt xám mờ. Cằm và họng xám nhạt. Ngực, bụng vàng xám chuyển thành hung nâu và ở bụng và dưới đuôi, nhưng màu nhạt và xỉn hơn.
Mắt xám nâu nhạt. Mỏ xám nâu. Chân hồng nâu.
Phân bố:
Phân loài này phân bố ở Đông Nam Thái Lan, Campuchia và Nam Việt Nam. Việt Nam đã bắt được phân loài này ở Kontum, đắc tô và Di Linh. Múi Né. Theo Deingan thì các vật mẫu bắt được ở Nam bộ thuộc phân loài Hypsipetes charlottae innectens Deignan.
Đăng nhập để bình luận

Xem các bài viết khác click vào đây



Trang chủ | Khám phá | Kinh nghiệm | Mua bán | Báo giá | Chim cảnh | Hỏi đáp | Đăng ký